CÔNG TY TNHH SX VÀ TM MINH TIẾN

Quy trình sản xuất thép

Xử lý quặng, Tạo dòng thép nóng chảy, Đúc tiếp liệu, Cán thép

Bài viết mô tả quá trình sản xuất thép tại CÔNG TY TNHH SX VÀ TM MINH TIẾN với 4 giai đoạn cực kỳ chuyên nghiệp, mang tính khoa học.

CÔNG TY TNHH SX VÀ TM MINH TIẾN , sản xuất thép, san xuat thep Minh Tien , Sản xuất thép Minh Tiến Steel, Minh Tien Steel thep, thép Minh Tiến, thep Minh Tien
Sản xuất thép tại CÔNG TY TNHH SX VÀ TM MINH TIẾN
QUY TRÌNH SẢN XUẤT THÉP
877 Lượt xem

QUY TRÌNH SẢN XUẤT THÉP TẠI CÔNG TY TNHH SX VÀ TM MINH TIẾN

 

Quy trình sản xuất thép nói chung bao gồm 4 công đoạn chính là:

  1. Xử lý quặng
  2. Tạo dòng thép nóng chảy
  3. Đúc tiếp liệu
  4. Cán thép
  5. Tuy nhiên, với riêng sản xuất thép dẹt sẽ có thêm công đoạn (5) gia công sau cán nhằm tạo ra các sản phẩm cho từng mục đích sử dụng.

 

Giai đoạn 1: Xử lý quặng

Xử lý quặng (luyện gang) là quá trình loại bỏ các tạp chất và khử oxy trong quặng sắt (các loại oxit sắt và tạp chất) để thu được gang ở dạng lỏng hoặc gang đúc (pig iron). Nguyên liệu chính để sản xuất gang bằng lò cao là quặng sắt (quặng thiêu kết, vê viên và quặng cục) và than cốc. Ngoài ra còn có chất trợ dung như đá vôi và đolomit. Nguyên liệu như quặng sắt, than cốc và chất trợ dung được nạp từ đỉnh lò. Gió được quạt vào hệ thống lò nung, gió nóng có nhiệt độ 1,000 – 1,250 độ sẽ đi vào lò cao và đốt cháy than cốc trong nguyên liệu tạo thành khí hoàn nguyên chứa nhiều CO chuyển động từ dưới nồi lò lên phía cổ lò và thoát ra ngoài, ngược chiều với chuyển động từ trên xuống của nguyên liệu. Chính khí hoàn nguyên này sẽ hoàn nguyên quặng sắt thành sắt kim loại và nóng chảy thành gang lỏng và được tháo ra ngoài bằng lỗ ra gang. Giai đoạn này có độ hao hụt khá lớn, khoảng 30%. Theo ước tính, khối lượng xỉ gang được tạo ra khoảng 320 – 390 kg trên mỗi tấn gang thành phẩm.

 

Giai đoạn 2: Tạo dòng thép nóng chảy

Dòng kim loại nóng chảy được hình thành từ giai đoạn 1 được dẫn tới lò BOF (lò EAF có thể trực tiếp tạo dòng kim loại nóng chảy này bằng cách nung nóng thép phế liệu). Tại đây, kim loại nóng được xử lý, tách tạp chất và tạo ra sự tương quan giữa các thành phần hoá học. Đây là cơ sở để quyết định mẻ thép tạo ra cho loại sản phẩm nào, thuộc mác thép nào. Trên thế giới hiện có hai nhánh công nghệ luyện phôi chính đó là:

  • Lò BOF – là loại công nghệ chính chiếm trên 70% sản lượng thép thế giới, luyện gang lỏng từ lò cao thành thép. Mục tiêu của quá trình luyện phôi trong lò BOF là đốt cháy (tức oxy hóa) các tạp chất không mong muốn có trong gang. Các nguyên tố chính được chuyển thành oxit là cacbon, silic, mangan, phốt pho và lưu huỳnh. Mục đích của quá trình oxy hóa là giảm hàm lượng cacbon đến mức quy định (≤4%), điều chỉnh hàm lượng nguyên tố ngoại lai yêu cầu và khử các tạp chất không mong muốn đến mức thấp nhất có thể. Độ hao hụt trong quá trình luyện bằng lò BOF khoảng 150 kg/tấn thép lỏng.
  • Lò EAF luyện phôi từ phế liệu và gang thỏi bằng năng lượng hồ quang điện. Để khử các tạp chất, nhất là lưu huỳnh, cần cho thêm chất khử mà chủ yếu là vôi. Vì vậy, một lượng xỉ được tạo thành từ vôi để thu gom các thành phần không yêu cầu trong thép. Sản lượng xỉ khoảng 100 – 150 kg xỉ cho 1 tấn thép lỏng được luyện. Bên cạnh đó, các loại thép hợp kim và thép chuyên dụng thường được sản xuất từ công nghệ lò điện cảm ứng (IF) – một biến thể của lò EAF. Ưu thế của lò IF là yêu cầu ít vốn đầu tư và chi phí vận hành thấp hơn so với lò EAF. Lò IF ban đầu chỉ có Ấn Độ sử dụng nhưng sau một thời gian Trung Quốc cũng áp dụng để sản xuất thép với giá thành thậm chí thấp hơn Ấn Độ.

 

Giai đoạn 3: Đúc tiếp liệu

Theo WSA, công nghệ máy đúc thép liên tục chiếm hơn 96% sản lượng thép trên toàn thế giới. Dòng kim loại sau khi ra khỏi giai đoạn 2 được đưa tới lò đúc phôi, từ lò này sẽ đúc ra 3 loại phôi:

  • Phôi vuông (Billet) là loại phôi thanh có tiết diện 100x100, 125x125, 150x150 dài 6 – 9 – 12 mét. Thường dùng để cán kéo thép cuộn xây dựng và thép thanh vằn.
  • Phôi dẹt (Slab) có kích thước lớn hơn billet, có tiết diện mặt cắt ngang hình chữ nhật, loại phôi thường dùng để cán ra thép cuộn cán nóng, thép tấm cán nóng, thép cuộn cán nguội hoặc thép hình.
  • Phôi Bloom là loại phôi gần giống billet nhưng có kích thước lớn hơn, có thể sử dụng thay thế cho phôi vuông và phôi dẹt.

 

Hình: Phôi vuông, phôi dẹt và phôi bloom

Giai đoạn 4: Cán thép

Phôi ở giai đoạn 3 được đưa vào các nhà máy để cán ra các sản phẩm thép:

  • Đưa phôi vào nhà máy thép hình (Section Mill) để cán ra các sản phẩm thép như sau: Rail (thép ray); Sheet pile (thép cừ lòng máng); Shape (thép hình các loại như thép chữ H, I, U, V...); Bar (thép thanh xây dựng).
  • Đưa phôi vào nhà máy kéo thép dây (Wire Rode Mill) để cán ra thép cuộn trơn, thép tròn xây dựng.
  • Đưa phôi vào nhà máy thép tấm (Plate Mill) để cán ra thép tấm đúc (Plate).
  • Đưa phôi Slab vào nhà máy thép cán nóng (Hot Strip Mill), phôi sẽ được cán ra thép cuộn cán nóng (Hot Roll Coil−HRC) hoặc thép tấm cắt (cắt ngay kho ra cuộn và đóng kiện). Trong quá trình cán ra thép HRC, thép cuộn đang ở nhiệt độ cao (Vd: 780oC) nếu muốn cán ra thép cuộn cán nguội (Cold Roll Coil−CRC) thì hạ nhiệt độ cuộn thép đó xuống nhiệt độ thích hợp (Vd: 480oC) và tiếp tục cán giảm độ dày. Như vậy, ngay ở giai đoạn này sản xuất ra thép cuộn cán nguội và thép cuộn cán nóng.
  • Đưa phôi vào nhà máy cán thép ống đúc (Seemless Pipe Mill) để sản xuất ra thép ống đúc.
  • Từ các nhà máy thép cán nóng sau khi cán ra thép cuộn cán nóng có thể đưa thẳng tới nhà máy cán thép ống hàn (Welded Pipe Mill). Thép cán nóng (HRC) để sản xuất thép cán nguội (CRC) và ống thép.

CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI MINH TIẾN

Trụ sở : 1/70E, ĐL Bình Dương, KP Bình Giao, P Thuận Giao, TX Thuận An, T Bình Dương

CN 1 : Số 11, QL 1A, KP 1, P Bình Hưng Hòa, Q Bình Tân, TP HCM

CN 2 : Số 62, QL 1A, Khu Phố 3, P Hiệp Bình Phước, Q Thủ Đức, TP HCM

CN 3 : B24E, QL 1A, KP 5, P Tân Hiệp, TP Biên Hoà, T Đồng Nai

Hotline: 0908952707

Steelminhtien@gmail.com
minhtiensteel.com

 

Bài viết khác
Về đầu trang